Chuyển đến nội dung chính

Chăm sóc sau phẫu thuật gãy xương đòn ra sao?

Phẫu thuật gãy xương đòn thực chất không phải là trường hợp khó, thời gian phẫu thuật diễn ra trung bình chỉ trong khoảng 1 giờ và thời gian hồi phục nhanh hơn các vị trí xương khác. Tuy nhiên, chăm sóc sau phẫu thuật gãy xương đòn cũng có thể để lại biến chứng nguy hiểm như bung nẹp, di lệch xương


Vì vậy, người bệnh cần nằm lòng một số vấn đề quan trọng chuẩn bị cho một cuộc phẫu thuật thành công như:


Chọn bác sĩ giỏi và có nhiều kinh nghiệm

Một trong những vấn đề người gãy xương đòn cần quan tâm là lựa chọn bệnh viện uy tín có đội ngũ bác sĩ giỏi, trang thiết bị y tế hiện đại để đảm bảo cho cuộc phẫu thuật diễn ra suôn sẻ nhất.

Xin ý kiến tư vấn của bác sĩ về phương pháp phẫu thuật phù hợp

Nếu bạn đang băn khoăn không biết phương pháp nào có thể đem lại hiệu quả tốt nhất cho một ca phẫu thuật gãy xương đòn, hãy xin ý kiến của bác sĩ. Sau khi kiểm tra, tùy vào mức độ gãy xương và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp phẫu thuật phù hợp nhất đem lại kết quả tốt nhất cho bệnh nhân.

Lưu ý cách chăm sóc hậu phẫu tốt

Trong tuần đầu chườm đá cho khớp vai 3 lần trong ngày mỗi lần 15 phút giúp giảm đau, sưng nề và nhiễm trùng.

Không nâng tay bị gãy xương đòn quá 70 độ theo mọi hướng trong vòng 4 tuần sau chấn thương.
Không nâng vật nặng quá 3 kg bên tay bị gãy trong vòng 6 tuần sau gãy xương.



Giữ nẹp xương đòn trong vòng 3-4 tuần sau chấn thương giúp lành xương.

Trong khi mang đai cần chú ý giữ cho xương và cơ thẳng nhằm tạo sự cân bằng tránh di lệch thứ phát, chú ý tư thế vai, không nhún vai, không thả lỏng vai hay xoay tròn vai khi mang nẹp.

Tái khám theo hẹn để kiểm tra theo dõi sự lành xương.

Dinh dưỡng đúng cách sau phẫu thuật

Người bệnh nên uống nhiều nước, cung cấp nhiều chất có nhiều vitamin và nhất là giàu protid và calci. Ăn ngay khi người bệnh tỉnh. Người bệnh nên ăn những thực phẩm dễ tiêu hóa, nên cung cấp nhiều thức ăn có calci như nghêu, sò, cua,... Ngoài ra, người bệnh nên vận động, uống nhiều nước tránh nguy cơ tạo sỏi. Đối với người già thì nên cho uống sữa vì khả năng hấp thu calci kém.

Hy vọng những chia sẽ của bác sĩ giúp ích cho cuộc sống của bạn. Chúc bạn luôn vui vẻ và mạnh khỏe.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Đau thần kinh liên sườn chữa bằng bấm huyệt

Trị đau thần kinh liên sườn bằng bấm huyệt thường gây ra những cơn đau nhói cũng như các cơn đau thường đến theo từng đợt, chạy dọc theo dây thần kinh. Bệnh đau dây thần kinh liên sườn thường xuất hiện ở những người trung niên, khoàng 30 tuổi trở đi; gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người bệnh. Đau thần kinh liên sườn là một bệnh lý tổn thương các rễ dây thần kinh liên sườn do rất nhiều nguyên nhân gây nên như làm việc với cường độ mạnh, chơi thể thao sai tư thế, chấn thương… Chỉ định: Đau dây thần kinh liên sườn chỉ định cho các bệnh nhân đau do nhiễm lạnh, do viêm. Chống chỉ định Bệnh nhân không thể khắc phục tình trạng bệnh bằng phương pháp này nếu nguyên nhân gây bệnh là các bệnh lý như u, lao, chấn thương cột sống. Bệnh nhân mắc bệnh ưa chảy máu, loãng xương. Bệnh nhân bị bệnh ngoài da khu vực lưng, ngực. Bệnh nhân đang sốt cao. Thì đầu kéo nắn: Nếu người bệnh có xuất hiện gò ở diện ức sườn người bệnh sẽ nằm ngửa, cánh tay bên vùng đau dơ lên ...

Phòng viêm khớp nhiễm khuẩn

VIÊM KHỚP NHIỄM KHUẨN HIỆN VẪN CÒN GẶP NHIỀU NẾU KHÔNG ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN SỚM, ĐIỀU TRỊ KHÔNG TÍCH CỰC VÀ KỊP THỜI, BỆNH THƯỜNG ĐƯA ĐẾN NHỮNG HẬU QUẢ RẤT NẶNG NỀ NHƯ NHIỄM KHUẨN HUYẾT, VIÊM XƯƠNG, TRẬT KHỚP, DÍNH KHỚP … Tụ cầu: đứng hàng đầu trong các loại vi khuẩn gây viêm khớp nhiễm khuẩn sinh mủ, điều trị gặp nhiều khó khăn vì hiện nay có ít loại thuốc kháng sinh có tác dụng đối với tụ cầu. Các loại cầu khuẩn khác: lậu cầu, liên cầu, phế cầu, não mô cầu. Ít gặp trên lâm sàng hơn so với tụ cầu. Các loại vi khuẩn khác có thể gây viêm khớp mủ nhưng ngày nay hầu như không gặp trên thực tế: trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn Coli, vi khuẩn Pleiffer, Proteus vulgaris, xoắn khuẩn giang mai... Đường vào của vi khuẩn: Phần lớn viêm khớp nhiễm khuẩn đều là thứ phát sau tổn thương ở một nơi khác, đường vào của vi khuẩn có thể là: Đường tại chỗ: Chấn thương khớp, nhất là những vết thương hở rách bao khớp, không được xử trí đúng và kịp thời. Những ổ nhiễm khuẩn ở gần khớp mà vi khuẩn the...